5 bước xử lí vết thương nhiễm trùng mưng mủ

Vết thương hở nếu không được xử lý đúng cách sẽ rất dễ bị nhiễm trùng. Nhiễm trùng là nguyên nhân chính gây ra lâu lành thương, để lại sẹo xấu và nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Sau đây là 5 bước xử lí vết thương nhiễm trùng mưng mủ đơn giản nhất.

1. Những dấu hiệu của sự nhiễm trùng

– Cảm giác đau tăng dần: Vết thương bình thường sẽ giảm và hết đau sau khoảng từ 2 đến 3 ngày đầu. Ngược lại sau khoảng thời gian này, vết thương vẫn đau tăng dần, đó bắt đầu là dấu hiệu của sự nhiễm trùng.

– Vết thương sưng, nóng, đỏ: Dấu hiệu này xuất hiện do phản ứng miễn dịch của cơ thể khi có sự xâm nhập của các tác nhân lạ tại vết thương; ở đây thường là vi khuẩn

Vùng da xung quanh phù nề căng mọng, tụ dịch dưới miệng vết thương, vết thương tiết nhiều dịch, rỉ mủ tanh hôi. Đây là những dấu hiệu rất rõ ràng nhất của một vết thương đã bị nhiễm trùng.

– Biểu hiện toàn thân: Khi nhiễm trùng nặng có thể có các dấu hiệu toàn thân như sốt, người mệt mỏi. Ngoài ra có thể nổi hạch gần vết thương như hạch nách, hạch cổ, hạch bẹn…

2. 5 bước xử lí vết thương nhiễm trùng mưng mủ

Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vết thương, vị trí vết thương và khu vực vết thương ảnh hưởng tới mà cách xử lý cụ thể sẽ khác nhau. Tuy nhiên sau đây là 5 bước xử lí vết thương nhiễm trùng đơn giản và chung nhất.

2.1 Loại bỏ dịch mủ và các mô hoại tử

Dịch mủ trắng tanh hôi và các mô hoại tử chính là ổ chứa vi khuẩn lớn nhất. Loại bỏ dịch mủ, mô hoại tử chính là loại bỏ nguyên nhân gây nhiễm trùng. Điều này sẽ tránh để tình trạng nhiễm trùng lan rộng. Đây là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất trong xử lý vết thương nhiễm trùng mưng mủ.

Phương pháp thực hiện bằng các thủ thuật chích rạch rộng vết thương để tháo mủ, nặn hết dịch tụ dưới vết thương. Với vết thương đã khâu bằng chỉ có thể xem xét cắt chỉ sớm để thoát dịch tốt hơn. Chú ý quan sát, với những mô đã hoại tử cần cắt bỏ sớm. Nếu phần hoại tử quá lớn và sâu có thể cần can thiệp bằng phẫu thuật theo chỉ định của bác sĩ.

2.2 Rửa sạch và sát khuẩn vết thương

Khi bị nhiễm trùng, chúng ta bạn cần rửa sạch và sát khuẩn vết thương hằng ngày. Tốt nhất nên sử dụng nước muối sinh lý và Cồn i-ốt (Betadine, Povidone…)

Thứ tự cách làm:

– Lần lau rửa thứ nhất: Sử dụng nước muối sinh lý tẩm gạc/bông ướt để lau sạch vết thương và những vùng xung quanh.

– Lần lau rửa thứ 2: Dùng gạc/bông khô lau lại các vị trí của lần lau đầu. Cố gắng làm sạch các cục máu đông, các vảy đen, mô hoại tử còn bám dính trên vết thương.

– Lần lau rửa thứ 3: Dùng gạc/bông tẩm cồn i-ốt lau sát khuẩn vết thương từ trong ra ngoài theo hình xoắn ốc

2.3 Băng bó vết thương nhiễm trùng

Băng bó vết thương có hai mục đích chính. Thứ nhất, sẽ tạo hàng rào bảo vệ các tổ chức mô bên dưới tránh khỏi bụi bẩn các nhân kích thích. Thứ hai, băng bó sẽ giúp thấm hút dịch vết thương, dịch mủ; giúp vết thương luôn khô ráo, mau lành.

Việc thay băng cần phải thực hiện thường xuyên khi băng đã bẩn hoặc đủ thời gian, một ngày thay một lần.

Với vết thương xây sát nhẹ, có thể không cần băng lại mà chỉ cần sát khuẩn xong để thoáng; vết thương sẽ nhanh khô hơn.

Với vết thương lóc mất da bao phủ, khi băng bó nên dùng gạc mỡ để tránh hiện tượng bám dính gạc vào miệng vết thương. Điều này gây đau đớn và tổn thương mới phát sinh lúc thay băng lần sau.

Với những vết thương miệng hẹp, đáy sâu giống một chiếc túi có đọng dịch; ta cần nhét gạc để dẫn lưu đào thải dịch mủ ra ngoài.

2.4 Sử dụng kháng sinh

Vết thương đã nhiễm trùng mưng mủ thì việc sử dụng kháng sinh là bắt buộc.

Nếu nhiễm trùng nhẹ có thể sử dụng kháng sinh uống. Khi đã nhiễm trùng nặng, nên sử dụng kháng sinh đường tiêm.

Việc lựa chọn kháng sinh nào chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người thầy thuốc. Nếu nuôi cấy được vi khuẩn để chọn thuốc theo kháng sinh đồ là tốt nhất.

2.5 Những việc không được làm khi chăm sóc vết thương nhiễm trùng

Rửa vết thương nhiều lần bằng oxy già:

Đây là sai lầm nhiều người gặp phải. Bản chất của oxy già là một chất sát khuẩn cực mạnh. Ngoài việc tiêu diệt vi khuẩn chúng còn phá hủy ngay cả các tế bào lành. Chất này chỉ được các bác sĩ sử dụng một lần duy nhất vào lúc làm sạch ngày đầu. Những ngày sau, nếu dùng lại oxy già sẽ phá hủy các mô liên kết mới hình thành; vết thương sẽ lâu lành. Sử dụng cồn i-ốt và nước muối sinh lý để rửa vết thương là tốt nhất.

Rắc thuốc bột, đắp thuốc lá lên vết thương:

Dịch rỉ ra từ vết thương trộn với thuốc bột hay lá đắp lên tạo thành môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển. Chưa rõ hiệu quả của việc rắc thuốc bột hay đắp thuốc lá đến đâu. Những việc này sẽ dễ gây nhiễm trùng vết thương hơn.

Ngâm vết thương vào nước trầu không hay các dung dịch dân gian khác:

Khi vết thương của bạn bị ngâm trong nước, biểu bì da có khuynh hướng mềm ra. Điều này tạo thuận lợi cho sự xâm nhập của vi khuẩn. Để vết thương luôn khô ráo là tốt nhất.

Bác sĩ Nguyễn Văn Luân

 

Chia sẻ